Archive for tháng 11 2012
Mấy năm gần đây, ở Huế người ăn bánh canh đông hẳn lên, từ học sinh, sinh viên, cán bộ... cho đến khách du lịch và nhất là Việt kiều về thăm quê.
Các quán bánh canh lần lượt mọc lên ở những công viên, cổng trường học, nhà máy... quán mở cửa từ sớm tinh mơ cho đến nửa đêm.
Bánh canh ở đây nấu bằng bột mì với cá và da heo, hoặc với thịt băm nhỏ vo viên... Công đoạn chế biến đơn giản và nhanh chóng: nước dùng đun sôi trong nồi, bột nhào xong cán thật mỏng quanh một ống nhôm tròn làm thớt. Dùng dao xắt thành từng con nhỏ, rơi vào nồi nước nóng. Khi bột vừa chín tới, vớt ra tô, chế nước dùng có thịt heo, cá và hành thái nhỏ, chêm gia vị vào rồi ăn nóng.
Ở Huế từ lâu lắm rồi, dưới làng Nam Phổ xã Phú Thượng, Phú Vang cách trung tâm thành phố Huế chừng 6km, đã có nghề bán cháo bánh canh truyền thống. Tuy cũng là cháo bánh canh, nhưng nó hoàn toàn khác với bánh canh đời mới. Vì thế, nếu không quen biết thì du khách dễ nhầm lẫn...
Bánh canh Nam Phổ bắt đầu bán từ buổi chiều khoảng 13 giờ trở đi, hàng bánh canh do một phụ nữ gánh đi bán dạo (ngày trước người bán trẻ hay già đều đội nón Huế, mặc áo dài). Xuất phát từ Nam Phổ, lên Vỹ Dạ, qua chợ Ðông Ba, vào Thành Nội... Trong hàng bánh canh, còn bán cả bánh lọc, bánh ít, bánh nậm v.v... là những thứ bánh đặc sản Huế.
Bánh canh truyền thống Nam Phổ làm bằng bột gạo (xưa không có bột mì), lại chỉ dùng tôm giã nhuyễn trộn trứng. Tô bánh canh hình dẹt, nước dùng trong và sền sệt, thơm phức...
Bánh canh Huế được nhiều người ưa. Giá bình dân, hợp khẩu vị những ai thích ăn cay và nóng. ở Huế nếu có cơ sở chế biến đóng gói, không chừng bánh canh sẽ trở thành một thứ "mì ăn liền" bán chạy cũng nên.
Bánh canh xứ Huế
Full View
Nhãn:
Bánh canh
Mấy năm gần đây, ở Huế người ăn bánh canh đông hẳn lên, từ học sinh, sinh viên, cán bộ... cho đến khách du lịch và nhất là Việt kiều về thăm quê.
Các quán bánh canh lần lượt mọc lên ở những công viên, cổng trường học, nhà máy... quán mở cửa từ sớm tinh mơ cho đến nửa đêm.
Bánh canh ở đây nấu bằng bột mì với cá và da heo, hoặc với thịt băm nhỏ vo viên... Công đoạn chế biến đơn giản và nhanh chóng: nước dùng đun sôi trong nồi, bột nhào xong cán thật mỏng quanh một ống nhôm tròn làm thớt. Dùng dao xắt thành từng con nhỏ, rơi vào nồi nước nóng. Khi bột vừa chín tới, vớt ra tô, chế nước dùng có thịt heo, cá và hành thái nhỏ, chêm gia vị vào rồi ăn nóng.
Ở Huế từ lâu lắm rồi, dưới làng Nam Phổ xã Phú Thượng, Phú Vang cách trung tâm thành phố Huế chừng 6km, đã có nghề bán cháo bánh canh truyền thống. Tuy cũng là cháo bánh canh, nhưng nó hoàn toàn khác với bánh canh đời mới. Vì thế, nếu không quen biết thì du khách dễ nhầm lẫn...
Bánh canh Nam Phổ bắt đầu bán từ buổi chiều khoảng 13 giờ trở đi, hàng bánh canh do một phụ nữ gánh đi bán dạo (ngày trước người bán trẻ hay già đều đội nón Huế, mặc áo dài). Xuất phát từ Nam Phổ, lên Vỹ Dạ, qua chợ Ðông Ba, vào Thành Nội... Trong hàng bánh canh, còn bán cả bánh lọc, bánh ít, bánh nậm v.v... là những thứ bánh đặc sản Huế.
Bánh canh truyền thống Nam Phổ làm bằng bột gạo (xưa không có bột mì), lại chỉ dùng tôm giã nhuyễn trộn trứng. Tô bánh canh hình dẹt, nước dùng trong và sền sệt, thơm phức...
Bánh canh Huế được nhiều người ưa. Giá bình dân, hợp khẩu vị những ai thích ăn cay và nóng. ở Huế nếu có cơ sở chế biến đóng gói, không chừng bánh canh sẽ trở thành một thứ "mì ăn liền" bán chạy cũng nên.
Bánh canh ở đây nấu bằng bột mì với cá và da heo, hoặc với thịt băm nhỏ vo viên... Công đoạn chế biến đơn giản và nhanh chóng: nước dùng đun sôi trong nồi, bột nhào xong cán thật mỏng quanh một ống nhôm tròn làm thớt. Dùng dao xắt thành từng con nhỏ, rơi vào nồi nước nóng. Khi bột vừa chín tới, vớt ra tô, chế nước dùng có thịt heo, cá và hành thái nhỏ, chêm gia vị vào rồi ăn nóng.
Ở Huế từ lâu lắm rồi, dưới làng Nam Phổ xã Phú Thượng, Phú Vang cách trung tâm thành phố Huế chừng 6km, đã có nghề bán cháo bánh canh truyền thống. Tuy cũng là cháo bánh canh, nhưng nó hoàn toàn khác với bánh canh đời mới. Vì thế, nếu không quen biết thì du khách dễ nhầm lẫn...
Bánh canh Nam Phổ bắt đầu bán từ buổi chiều khoảng 13 giờ trở đi, hàng bánh canh do một phụ nữ gánh đi bán dạo (ngày trước người bán trẻ hay già đều đội nón Huế, mặc áo dài). Xuất phát từ Nam Phổ, lên Vỹ Dạ, qua chợ Ðông Ba, vào Thành Nội... Trong hàng bánh canh, còn bán cả bánh lọc, bánh ít, bánh nậm v.v... là những thứ bánh đặc sản Huế.
Bánh canh truyền thống Nam Phổ làm bằng bột gạo (xưa không có bột mì), lại chỉ dùng tôm giã nhuyễn trộn trứng. Tô bánh canh hình dẹt, nước dùng trong và sền sệt, thơm phức...
Bánh canh Huế được nhiều người ưa. Giá bình dân, hợp khẩu vị những ai thích ăn cay và nóng. ở Huế nếu có cơ sở chế biến đóng gói, không chừng bánh canh sẽ trở thành một thứ "mì ăn liền" bán chạy cũng nên.
Ngoài tranh trướng liễn dân gian, làng Chuồn còn có một thành tựu trong việc gói bánh tét truyền thống của Huế. Kỹ thuật gói và nấu bánh tét phổ biến khắp các làng quê xứ Huế, ở làng Chuồn cũng không có gì khác lạ. Nhưng bánh tét làng Chuồn lại đặc biệt về vật liệu. Tại làng này từ xưa đã khoanh vùng khoảng 20 mẫu ruộng để cấy nếp ngon. Đó là loại nếp thơm, gọi tên là nếp Tây. Tài khéo làm bánh tét làng Chuồn thể hiện trong mọi khâu.
Trước hết là chọn nếp: nếp ngon đều hạt, giã trắng, sàng kỹ tấm cám, không lẫn gạo hay bông cỏ, hạt cát. Nếp được ngâm kỹ, vút thật sạch, để ráo nước (để bảo đảm giữ bánh được chừng nửa tháng). Lá gói bánh là lá chuối sứ không già lắm, có mặt rộng độ bền chắc. Lạt giang vót mỏng dễ cột chặt làm cho bánh ổn định hình thể, và không thấm nước nhiều làm nhão bánh. Nhụy đậu xanh cũng chọn loại đậu xanh mỡ (loại hạt đậu lớn đều), ngâm vút làm nhụy sống. Mỡ lợn là loại mỡ giấy xắt thỏi dài vuông vức góc cạnh. Tiêu, hành, muối nêm vừa ướp đều trong mỡ, thêm một ít muối trộn đều trong nếp.
Khi gói thao tác khéo, để nhụy bánh nằm đúng trung tâm. Đòn bánh gói đẹp giữ vững hình trụ tròn đều, các nuộc lạt buộc khéo đều nhau. Để bánh có màu xanh tự nhiên còn phải bỏ một lượng lá “mật lục” (lá hoang ở bờ bụi có hình thùy, chót lá tóp nhỏ, thân và cành có gai thưa) vào nồi trước khi nấu. Trong quá trình nấu bánh, phải thay nước ít nhất hai lần để khỏi úa màu lá. Giữ lửa đều 12 tiếng làm cho bánh nhừ, giữ được lâu mà hạt nếp vẫn không "sống" trở lại.
Tét bánh bằng chỉ hay sợi gấc làm mặt bánh mịn màng phẳng đẹp, sắp khéo vào dĩa trông như những vầng trăng tròn tươi sáng tỏa hương. Khi ăn, ta cảm nhận vị mềm dẻo của bánh, hương thơm dịu của bánh, vị béo bùi của nhụy bánh và vị cay của tiêu hành, thành một vị tổng hòa thơm ngon, hấp dẫn.
Bánh tét làng Chuồn
Full View
Nhãn:
Bánh tét
Trước hết là chọn nếp: nếp ngon đều hạt, giã trắng, sàng kỹ tấm cám, không lẫn gạo hay bông cỏ, hạt cát. Nếp được ngâm kỹ, vút thật sạch, để ráo nước (để bảo đảm giữ bánh được chừng nửa tháng). Lá gói bánh là lá chuối sứ không già lắm, có mặt rộng độ bền chắc. Lạt giang vót mỏng dễ cột chặt làm cho bánh ổn định hình thể, và không thấm nước nhiều làm nhão bánh. Nhụy đậu xanh cũng chọn loại đậu xanh mỡ (loại hạt đậu lớn đều), ngâm vút làm nhụy sống. Mỡ lợn là loại mỡ giấy xắt thỏi dài vuông vức góc cạnh. Tiêu, hành, muối nêm vừa ướp đều trong mỡ, thêm một ít muối trộn đều trong nếp.
Khi gói thao tác khéo, để nhụy bánh nằm đúng trung tâm. Đòn bánh gói đẹp giữ vững hình trụ tròn đều, các nuộc lạt buộc khéo đều nhau. Để bánh có màu xanh tự nhiên còn phải bỏ một lượng lá “mật lục” (lá hoang ở bờ bụi có hình thùy, chót lá tóp nhỏ, thân và cành có gai thưa) vào nồi trước khi nấu. Trong quá trình nấu bánh, phải thay nước ít nhất hai lần để khỏi úa màu lá. Giữ lửa đều 12 tiếng làm cho bánh nhừ, giữ được lâu mà hạt nếp vẫn không "sống" trở lại.
Tét bánh bằng chỉ hay sợi gấc làm mặt bánh mịn màng phẳng đẹp, sắp khéo vào dĩa trông như những vầng trăng tròn tươi sáng tỏa hương. Khi ăn, ta cảm nhận vị mềm dẻo của bánh, hương thơm dịu của bánh, vị béo bùi của nhụy bánh và vị cay của tiêu hành, thành một vị tổng hòa thơm ngon, hấp dẫn.
Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác.
Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún "bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…" mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo.
Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn.
Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bún bò giò heo - Huế
Full View
Nhãn:
Bún bò
Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác.
Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún "bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…" mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo.
Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn.
Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Bún thì không đâu không có, nhưng hình thức của con bún thì mỗi miền mỗi khác.
Ở Hà Nội, xưa và nay cũng la liệt bún "bún riêu, bún chả, bún ốc, bún thang…" mà có lẽ đặc biệt nhất là bún chả, sợi bún rất mảnh lại cuộn từng lá mỏng, còn chả thì là thịt ba chỉ cặp vào thanh tre rồi đem nướng trên than hoa, chẳng khác gì bún thịt nướng ở Huế nhưng ngon hơn nhờ nước chấm và rau húng. Ở Huế cũng thế, có bún giò heo.
Dọc hai bên đường bạn sẽ gặp ngay ở đây những gánh bún rất bình dân nhưng cũng rất ngon, rất đông khách… Một tô bún giò hay bún bò hấp dẫn thực khách chính là nhờ chất nước ngon ngọt và thơm. Đặc biệt là nồi bún, một nồi bằng nhôm dẻo rất mỏng và được người thợ gò xứ Huế gò rất khéo, trông giống một chiếc nồi đồng ngày xưa nhưng sâu và miệng rộng hơn.
Cái nồi được chùi rửa kỳ cọ rất kỹ nên bao giờ cũng sáng trắng, trông rất thích mắt. Ăn một tô bún đang bốc khói, những sợi bún trắng trong nổi bật trên đó là những viên mọc hồng (được viên từ giò sống và thịt cua), những miếng móng giò được ninh mềm nhừ, với một chút màu trắng của những cọng rá và màu xanh của rau sống, húp một ít nước beo béo đậm đà kèm theo một chút gia vị mắm ớt chanh bạn sẽ thấy vô cùng thú vị, vừa cay, vừa nóng, vừa xuýt xoa, vừa nghe vị ngọt của nước bún của thịt chạy dần vào trong thực quản, chắc chắn bạn sẽ không quên được cái hương vị này. Phải có một lần ăn bún đến chảy nước mắt lúc đó mới cảm được cái hương vị xứ Huế nó thâm trầm như thế nào.
Những người Huế tha hương sau chuyến thăm nhà thường mang theo một vài thứ phong vị quê hương, và trong những thứ đó, tất nhiên không thể thiếu thẩu tôm chua.
Du khách trước khi rời Huế đều mua vài thẩu về cho người thân. Tôm chua giờ đây một vài nơi khác trong nước có thể làm được theo công thức. Song thật ra, chỉ ở Huế, tôm chua mới ngon, cũng như cơm hến vậy.
Tất cả các loại tôm đều làm được, tôm càng tươi càng ngon. Đặc biệt là tôm rằn, lúc chín, tôm có màu đỏ tự nhiên rất hấp dẫn. Hầu như các gia đình vùng Huế đều làm được tôm chua để dành. Bởi là món đặc sản ngon nên việc làm tôm chua nhiều năm trở lại đây đã trở thành một nghề sống của nhiều người. Ngày trước, mỗi khi có giỗ, tiệc, các gia đình thường tự làm lấy. Nay thì đa số ra chợ mua, chỉ còn người “kén” ăn thích tự mình làm cho bảo đảm chất lượng.
Trong phạm vi dùng trong gia đình, cách làm như sau, vật liệu: tôm tươi, măng vòi, củ riềng, tỏi, ớt trái chín đỏ, xôi (cơm nếp), rượu gạo, nước mắm hoặc muối. Chọn tôm tươi sống, đều con, nhặt sạch rác, cắt rau, rửa sạch để ráo, ngâm với rượu cho đến khi hết mùi rượu, vớt ra để ráo. Măng vòi (phần non), tỏi xắt lát mỏng, củ riềng xắt rối, ớt trái xắt lát dài. Trộn đều tôm, xôi, măng vòi, tỏi, ớt, riềng, nước mắm ngon hoặc muối, cho vào thẩu thuỷ tinh hoặc thẩu men, lấy vài thanh tre mỏng gài lại và đậy nắp, để nơi có nắng ấm độ 3 ngày. Sau đó đưa vào nơi khô ráo và mát. Từ 5 đến 7 ngày, màu trắng của xôi, măng, riềng, tỏi, màu đỏ của tôm, ớt cho ta một thẩu tôm chua chín vừa, đẹp và thơm ngon. Ở các gian hàng bán tôm chua khi khách mua, nếu khách yêu cầu, họ thêm riềng vào. Bởi vì với tôm chua, tép chua và một số loại màu, càng nhiều riềng ăn càng ngon. Khi ăn, gia thêm ớt, tỏi, đường, bột ngọt. Người làm tôm chua ngon nhất Huế hiện nay là bà Nguyễn Thị Hường ở đường Phùng Hưng, Thành nội Huế. Để làm tôm chua, bà Hường chọn tôm tươi sống loại xuất khẩu, khi bán bà cho thêm mật ong vào.
Người Huế có bạn chí cốt ở xa, nhớ nhau, thỉnh thoảng gửi cho bạn thẩu tôm chua để bạn có hương vị Huế, còn mình thì đỡ nhớ bạn. Đến Huế, nếu có người thân, bạn sẽ được tặng tôm chua hoặc được mời dùng cơm gia đình với món thực đơn các món ăn Huế. Thế nào bạn cũng được thưởng thức món thịt heo phay - tôm chua. Ở các quán ăn, nhà hàng cũng có món đặc sản này, quán ăn ngon mới có tôm chua ngon. Gia chủ dọn ra một dĩa thịt heo phay (nạc nhiều - xắt lát mỏng), một chén tôm chua thơm lựng, một dĩa rau thơm, khế, vả, sắp xếp đẹp, ngon mắt. Có thể thay rau sống bằng dưa giá củ kiệu. Một miếng ăn ghém, vị ngọt bùi của tôm, vị béo của thịt, vị cay, thơm của riềng, tỏi ớt, vị chua của khế, vị chát của vả, hương thơm của rau… Tất cả dồn lên đầu lưỡi một vị tuyệt vời.
Tôm chua Huế
Full View
Nhãn:
Tôm chua
Những người Huế tha hương sau chuyến thăm nhà thường mang theo một vài thứ phong vị quê hương, và trong những thứ đó, tất nhiên không thể thiếu thẩu tôm chua.
Du khách trước khi rời Huế đều mua vài thẩu về cho người thân. Tôm chua giờ đây một vài nơi khác trong nước có thể làm được theo công thức. Song thật ra, chỉ ở Huế, tôm chua mới ngon, cũng như cơm hến vậy.
Tất cả các loại tôm đều làm được, tôm càng tươi càng ngon. Đặc biệt là tôm rằn, lúc chín, tôm có màu đỏ tự nhiên rất hấp dẫn. Hầu như các gia đình vùng Huế đều làm được tôm chua để dành. Bởi là món đặc sản ngon nên việc làm tôm chua nhiều năm trở lại đây đã trở thành một nghề sống của nhiều người. Ngày trước, mỗi khi có giỗ, tiệc, các gia đình thường tự làm lấy. Nay thì đa số ra chợ mua, chỉ còn người “kén” ăn thích tự mình làm cho bảo đảm chất lượng.
Trong phạm vi dùng trong gia đình, cách làm như sau, vật liệu: tôm tươi, măng vòi, củ riềng, tỏi, ớt trái chín đỏ, xôi (cơm nếp), rượu gạo, nước mắm hoặc muối. Chọn tôm tươi sống, đều con, nhặt sạch rác, cắt rau, rửa sạch để ráo, ngâm với rượu cho đến khi hết mùi rượu, vớt ra để ráo. Măng vòi (phần non), tỏi xắt lát mỏng, củ riềng xắt rối, ớt trái xắt lát dài. Trộn đều tôm, xôi, măng vòi, tỏi, ớt, riềng, nước mắm ngon hoặc muối, cho vào thẩu thuỷ tinh hoặc thẩu men, lấy vài thanh tre mỏng gài lại và đậy nắp, để nơi có nắng ấm độ 3 ngày. Sau đó đưa vào nơi khô ráo và mát. Từ 5 đến 7 ngày, màu trắng của xôi, măng, riềng, tỏi, màu đỏ của tôm, ớt cho ta một thẩu tôm chua chín vừa, đẹp và thơm ngon. Ở các gian hàng bán tôm chua khi khách mua, nếu khách yêu cầu, họ thêm riềng vào. Bởi vì với tôm chua, tép chua và một số loại màu, càng nhiều riềng ăn càng ngon. Khi ăn, gia thêm ớt, tỏi, đường, bột ngọt. Người làm tôm chua ngon nhất Huế hiện nay là bà Nguyễn Thị Hường ở đường Phùng Hưng, Thành nội Huế. Để làm tôm chua, bà Hường chọn tôm tươi sống loại xuất khẩu, khi bán bà cho thêm mật ong vào.
Người Huế có bạn chí cốt ở xa, nhớ nhau, thỉnh thoảng gửi cho bạn thẩu tôm chua để bạn có hương vị Huế, còn mình thì đỡ nhớ bạn. Đến Huế, nếu có người thân, bạn sẽ được tặng tôm chua hoặc được mời dùng cơm gia đình với món thực đơn các món ăn Huế. Thế nào bạn cũng được thưởng thức món thịt heo phay - tôm chua. Ở các quán ăn, nhà hàng cũng có món đặc sản này, quán ăn ngon mới có tôm chua ngon. Gia chủ dọn ra một dĩa thịt heo phay (nạc nhiều - xắt lát mỏng), một chén tôm chua thơm lựng, một dĩa rau thơm, khế, vả, sắp xếp đẹp, ngon mắt. Có thể thay rau sống bằng dưa giá củ kiệu. Một miếng ăn ghém, vị ngọt bùi của tôm, vị béo của thịt, vị cay, thơm của riềng, tỏi ớt, vị chua của khế, vị chát của vả, hương thơm của rau… Tất cả dồn lên đầu lưỡi một vị tuyệt vời.
Du khách trước khi rời Huế đều mua vài thẩu về cho người thân. Tôm chua giờ đây một vài nơi khác trong nước có thể làm được theo công thức. Song thật ra, chỉ ở Huế, tôm chua mới ngon, cũng như cơm hến vậy.
Tất cả các loại tôm đều làm được, tôm càng tươi càng ngon. Đặc biệt là tôm rằn, lúc chín, tôm có màu đỏ tự nhiên rất hấp dẫn. Hầu như các gia đình vùng Huế đều làm được tôm chua để dành. Bởi là món đặc sản ngon nên việc làm tôm chua nhiều năm trở lại đây đã trở thành một nghề sống của nhiều người. Ngày trước, mỗi khi có giỗ, tiệc, các gia đình thường tự làm lấy. Nay thì đa số ra chợ mua, chỉ còn người “kén” ăn thích tự mình làm cho bảo đảm chất lượng.
Trong phạm vi dùng trong gia đình, cách làm như sau, vật liệu: tôm tươi, măng vòi, củ riềng, tỏi, ớt trái chín đỏ, xôi (cơm nếp), rượu gạo, nước mắm hoặc muối. Chọn tôm tươi sống, đều con, nhặt sạch rác, cắt rau, rửa sạch để ráo, ngâm với rượu cho đến khi hết mùi rượu, vớt ra để ráo. Măng vòi (phần non), tỏi xắt lát mỏng, củ riềng xắt rối, ớt trái xắt lát dài. Trộn đều tôm, xôi, măng vòi, tỏi, ớt, riềng, nước mắm ngon hoặc muối, cho vào thẩu thuỷ tinh hoặc thẩu men, lấy vài thanh tre mỏng gài lại và đậy nắp, để nơi có nắng ấm độ 3 ngày. Sau đó đưa vào nơi khô ráo và mát. Từ 5 đến 7 ngày, màu trắng của xôi, măng, riềng, tỏi, màu đỏ của tôm, ớt cho ta một thẩu tôm chua chín vừa, đẹp và thơm ngon. Ở các gian hàng bán tôm chua khi khách mua, nếu khách yêu cầu, họ thêm riềng vào. Bởi vì với tôm chua, tép chua và một số loại màu, càng nhiều riềng ăn càng ngon. Khi ăn, gia thêm ớt, tỏi, đường, bột ngọt. Người làm tôm chua ngon nhất Huế hiện nay là bà Nguyễn Thị Hường ở đường Phùng Hưng, Thành nội Huế. Để làm tôm chua, bà Hường chọn tôm tươi sống loại xuất khẩu, khi bán bà cho thêm mật ong vào.
Người Huế có bạn chí cốt ở xa, nhớ nhau, thỉnh thoảng gửi cho bạn thẩu tôm chua để bạn có hương vị Huế, còn mình thì đỡ nhớ bạn. Đến Huế, nếu có người thân, bạn sẽ được tặng tôm chua hoặc được mời dùng cơm gia đình với món thực đơn các món ăn Huế. Thế nào bạn cũng được thưởng thức món thịt heo phay - tôm chua. Ở các quán ăn, nhà hàng cũng có món đặc sản này, quán ăn ngon mới có tôm chua ngon. Gia chủ dọn ra một dĩa thịt heo phay (nạc nhiều - xắt lát mỏng), một chén tôm chua thơm lựng, một dĩa rau thơm, khế, vả, sắp xếp đẹp, ngon mắt. Có thể thay rau sống bằng dưa giá củ kiệu. Một miếng ăn ghém, vị ngọt bùi của tôm, vị béo của thịt, vị cay, thơm của riềng, tỏi ớt, vị chua của khế, vị chát của vả, hương thơm của rau… Tất cả dồn lên đầu lưỡi một vị tuyệt vời.
Xứ Huế không chỉ mộng mơ với vẻ đẹp nên thơ mà còn làm say lòng người bởi một truyền thống ẩm thực tinh tế, cầu kỳ. Những ai yêu và say mê mảnh đất Huế sẽ không thể quên hương vị của một món ăn dân giã đậm tình người, luôn níu chân bất kỳ du khách nào, đó là Cơm hến.
Hến của xứ Huế ngon và đặc biệt hơn ở bất cứ nơi đâu. Có lẽ vì tạo hóa đã ưu ái cho nơi đây cả một Cồn hến… Cồn hến được coi như mỏ hến, chỉ cách Huế chừng vài ki-lo-met. Đó là nơi vẫn giữ được vẻ đẹp thanh bình, cổ kính tựa như dòng sông Hương. Phù sa của sông đã cho những con hến ngọt lành, sinh sôi nảy nở để người Huế có bát canh ngon, có món Cơm hến nặng tình, nặng nghĩa với những người xa xứ.
Cơm hến là một cuộc hành trình từ cái nghèo, cái dân dã đến sự cao quý, xa hoa trong chốn cung đình, và giờ đây trở thành đặc sản của vùng đất Huế. Xuất thân từ một món cơm độn của nhà nghèo ăn cho qua bữa, thế nhưng món ăn thô mộc ấy lại vang danh đến tận cung đình và được trân trọng, nâng niu như một truyền thống quý báu.
Món ăn bình dị mà chứa đựng bao kỳ công của người chế biến. Hến được đem về rửa sạch, đun sôi rồi cho vào nước lạnh để tách lấy thịt. Thịt hến và nước hến trong là hai vị chủ đạo của Cơm hến, ngoài ra không thể thiếu những thứ gia vị như: mắm ruốc, rau bắp cải, tóp mỡ, ớt màu, đậu phụng nguyên hạt rang dầu, khế chua, rau thơm, bạc hà hay dọc mùng, bắp chuối thái chỉ, nước mắm, hạt tiêu, hành, muối mè, bì lợn rang giòn.

Cơm để làm cơm hến phải nấu vừa chín tới, không dẻo, để nguội rồi được đánh tơi ra từng hạt, ủ trong rá được đậy lá chuối lên trên. Tất cả đều ăn nguội, chỉ có nước hến phải được giữ cho nóng sôi trên bếp. Bát cơm hến được rải lên trên một lớp hến xào, rồi lần lượt cho dúm chuối bào, vài lát khế, ít giá sống, vài cọng rau muống chẻ, nửa thìa đậu phộng rang dầu, dăm bảy miếng da heo chiên phồng, ít hành phi, thìa ruốc, vài lát ớt đỏ...
Thoáng chốc tô cơm đã đầy thơm phức tỏa ta một thứ mùi thơm đặc biệt, mùi thơm dâng lên mũi, vị ngọt thấm vào đầu lưỡi, chất béo lan trong miệng…Bên cạnh đó là bát nước hến nóng hổi, hương thơm lan tỏa như mời mọc, quyến rũ, không gì ngọt đượm như nước hến, thứ nước chắt lọc từ những con hến được tắm dòng nước sông Hương.
Bạn không chỉ ăn mà còn đang thưởng thức hương vị của từng sản phẩm trong bát cơm hến, mọi tế bào, mọi giác quan được cộng hưởng, tạo nên một âm hưởng đặc biệt thật khó quên.

Những bát Cơm hến thơm thảo vẫn kĩu kịt trên gánh hàng rong với tiếng rao nhỏ nhẹ, ngọt ngào rất Huế trên từng con phố, phải chăng vì thế mà Cơm hến trở nên đậm đà đến lạ. Rồi Cơn hến là hai tiếng gợi thương, gợi nhớ đối với những ai “phải lòng” cái nét thanh tao của chốn kinh kỳ. Bởi cơm hến là một phần cốt cách, tâm hồn của của người Huế, góp phần tôn vinh sự giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế trong mắt bạn bè bốn phương.
Cơm hến của Huế
Full View
Nhãn:
Cơm hến
Xứ Huế không chỉ mộng mơ với vẻ đẹp nên thơ mà còn làm say lòng người bởi một truyền thống ẩm thực tinh tế, cầu kỳ. Những ai yêu và say mê mảnh đất Huế sẽ không thể quên hương vị của một món ăn dân giã đậm tình người, luôn níu chân bất kỳ du khách nào, đó là Cơm hến.
Hến của xứ Huế ngon và đặc biệt hơn ở bất cứ nơi đâu. Có lẽ vì tạo hóa đã ưu ái cho nơi đây cả một Cồn hến… Cồn hến được coi như mỏ hến, chỉ cách Huế chừng vài ki-lo-met. Đó là nơi vẫn giữ được vẻ đẹp thanh bình, cổ kính tựa như dòng sông Hương. Phù sa của sông đã cho những con hến ngọt lành, sinh sôi nảy nở để người Huế có bát canh ngon, có món Cơm hến nặng tình, nặng nghĩa với những người xa xứ.
Cơm hến là một cuộc hành trình từ cái nghèo, cái dân dã đến sự cao quý, xa hoa trong chốn cung đình, và giờ đây trở thành đặc sản của vùng đất Huế. Xuất thân từ một món cơm độn của nhà nghèo ăn cho qua bữa, thế nhưng món ăn thô mộc ấy lại vang danh đến tận cung đình và được trân trọng, nâng niu như một truyền thống quý báu.
Món ăn bình dị mà chứa đựng bao kỳ công của người chế biến. Hến được đem về rửa sạch, đun sôi rồi cho vào nước lạnh để tách lấy thịt. Thịt hến và nước hến trong là hai vị chủ đạo của Cơm hến, ngoài ra không thể thiếu những thứ gia vị như: mắm ruốc, rau bắp cải, tóp mỡ, ớt màu, đậu phụng nguyên hạt rang dầu, khế chua, rau thơm, bạc hà hay dọc mùng, bắp chuối thái chỉ, nước mắm, hạt tiêu, hành, muối mè, bì lợn rang giòn.

Cơm để làm cơm hến phải nấu vừa chín tới, không dẻo, để nguội rồi được đánh tơi ra từng hạt, ủ trong rá được đậy lá chuối lên trên. Tất cả đều ăn nguội, chỉ có nước hến phải được giữ cho nóng sôi trên bếp. Bát cơm hến được rải lên trên một lớp hến xào, rồi lần lượt cho dúm chuối bào, vài lát khế, ít giá sống, vài cọng rau muống chẻ, nửa thìa đậu phộng rang dầu, dăm bảy miếng da heo chiên phồng, ít hành phi, thìa ruốc, vài lát ớt đỏ...
Thoáng chốc tô cơm đã đầy thơm phức tỏa ta một thứ mùi thơm đặc biệt, mùi thơm dâng lên mũi, vị ngọt thấm vào đầu lưỡi, chất béo lan trong miệng…Bên cạnh đó là bát nước hến nóng hổi, hương thơm lan tỏa như mời mọc, quyến rũ, không gì ngọt đượm như nước hến, thứ nước chắt lọc từ những con hến được tắm dòng nước sông Hương.
Bạn không chỉ ăn mà còn đang thưởng thức hương vị của từng sản phẩm trong bát cơm hến, mọi tế bào, mọi giác quan được cộng hưởng, tạo nên một âm hưởng đặc biệt thật khó quên.

Những bát Cơm hến thơm thảo vẫn kĩu kịt trên gánh hàng rong với tiếng rao nhỏ nhẹ, ngọt ngào rất Huế trên từng con phố, phải chăng vì thế mà Cơm hến trở nên đậm đà đến lạ. Rồi Cơn hến là hai tiếng gợi thương, gợi nhớ đối với những ai “phải lòng” cái nét thanh tao của chốn kinh kỳ. Bởi cơm hến là một phần cốt cách, tâm hồn của của người Huế, góp phần tôn vinh sự giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế trong mắt bạn bè bốn phương.
Hến của xứ Huế ngon và đặc biệt hơn ở bất cứ nơi đâu. Có lẽ vì tạo hóa đã ưu ái cho nơi đây cả một Cồn hến… Cồn hến được coi như mỏ hến, chỉ cách Huế chừng vài ki-lo-met. Đó là nơi vẫn giữ được vẻ đẹp thanh bình, cổ kính tựa như dòng sông Hương. Phù sa của sông đã cho những con hến ngọt lành, sinh sôi nảy nở để người Huế có bát canh ngon, có món Cơm hến nặng tình, nặng nghĩa với những người xa xứ.
Cơm hến là một cuộc hành trình từ cái nghèo, cái dân dã đến sự cao quý, xa hoa trong chốn cung đình, và giờ đây trở thành đặc sản của vùng đất Huế. Xuất thân từ một món cơm độn của nhà nghèo ăn cho qua bữa, thế nhưng món ăn thô mộc ấy lại vang danh đến tận cung đình và được trân trọng, nâng niu như một truyền thống quý báu.
Món ăn bình dị mà chứa đựng bao kỳ công của người chế biến. Hến được đem về rửa sạch, đun sôi rồi cho vào nước lạnh để tách lấy thịt. Thịt hến và nước hến trong là hai vị chủ đạo của Cơm hến, ngoài ra không thể thiếu những thứ gia vị như: mắm ruốc, rau bắp cải, tóp mỡ, ớt màu, đậu phụng nguyên hạt rang dầu, khế chua, rau thơm, bạc hà hay dọc mùng, bắp chuối thái chỉ, nước mắm, hạt tiêu, hành, muối mè, bì lợn rang giòn.
Cơm để làm cơm hến phải nấu vừa chín tới, không dẻo, để nguội rồi được đánh tơi ra từng hạt, ủ trong rá được đậy lá chuối lên trên. Tất cả đều ăn nguội, chỉ có nước hến phải được giữ cho nóng sôi trên bếp. Bát cơm hến được rải lên trên một lớp hến xào, rồi lần lượt cho dúm chuối bào, vài lát khế, ít giá sống, vài cọng rau muống chẻ, nửa thìa đậu phộng rang dầu, dăm bảy miếng da heo chiên phồng, ít hành phi, thìa ruốc, vài lát ớt đỏ...
Thoáng chốc tô cơm đã đầy thơm phức tỏa ta một thứ mùi thơm đặc biệt, mùi thơm dâng lên mũi, vị ngọt thấm vào đầu lưỡi, chất béo lan trong miệng…Bên cạnh đó là bát nước hến nóng hổi, hương thơm lan tỏa như mời mọc, quyến rũ, không gì ngọt đượm như nước hến, thứ nước chắt lọc từ những con hến được tắm dòng nước sông Hương.
Bạn không chỉ ăn mà còn đang thưởng thức hương vị của từng sản phẩm trong bát cơm hến, mọi tế bào, mọi giác quan được cộng hưởng, tạo nên một âm hưởng đặc biệt thật khó quên.
Những bát Cơm hến thơm thảo vẫn kĩu kịt trên gánh hàng rong với tiếng rao nhỏ nhẹ, ngọt ngào rất Huế trên từng con phố, phải chăng vì thế mà Cơm hến trở nên đậm đà đến lạ. Rồi Cơn hến là hai tiếng gợi thương, gợi nhớ đối với những ai “phải lòng” cái nét thanh tao của chốn kinh kỳ. Bởi cơm hến là một phần cốt cách, tâm hồn của của người Huế, góp phần tôn vinh sự giản dị, mộc mạc, thanh đạm mang đầy chất Huế trong mắt bạn bè bốn phương.
Nếu bạn từng một lần đến Huế, từng say mê với các món dân dã như bánh bèo, bánh bột lọc thì nhất định bạn không thể bỏ qua món nem lụi – một trong những đặc sản lâu đời của xứ thần kinh.Nếu bạn từng một lần đến Huế, từng say mê với các món dân dã như bánh bèo, bánh bột lọc thì nhất định bạn không thể bỏ qua món nem lụi – một trong những đặc sản lâu đời của xứ thần kinh.
Rất đơn giản trong cách chế biến, thế nhưng nem lụi đã khiến biết bao nhiêu thực khách phải “ngẩn ngơ lòng” khi thưởng thức. Nguyên liệu để làm nên món nem lụi rất đơn giản: thịt heo đã quết nhuyễn trộn với bì, mỡ heo thái hạt lựu ướp cùng muối, tiêu đường, thính. Sau đó người ta lụi hỗn hợp này vào từng chiếc đũa tre nhỏ và nướng trên bếp than. Mùi vị thơm nức của thịt bốc lên trên từng chiếc đũa tre khiến thực khách “không cầm lòng” nổi. Đó là sự hấp dẫn đầu tiên mà món ăn mang tới cho bạn.
Nhưng món nem lụi không chỉ kéo chân thực khách bởi mùi vị tỏa ra từ miếng thịt ngon lành, mà còn bằng chén nước chấm được pha chế rất độc đáo. Đó không phải là chén nước chấm chua ngọt mà chúng ta vẫn thường ăn với bún thịt nướng hay bún chả, mà là chén nước chấm được pha bằng kiểu rất riêng của người Huế. Đầu tiên, để làm nước chấm, người ta xay nhuyễn đậu phộng, cho thêm một chút nước mắm rồi đun trên bếp thành một hỗn hợp sền sệt giống như tương. Người ta còn cho thêm vào đó gan heo, thịt heo băm nhuyễn để món nước chấm được đậm đà và nhiều hương vị hơn.

Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.
Cầm miếng bánh tráng trên tay, lần lượt xếp rau thơm, khế chua, chuối xanh rồi tới nem lụi, cuốn vào và bắt đầu thưởng thức. Món ăn là sự kết hợp hài hòa của các hương vị: mùi thơm của miếng thịt đã nướng vàng, chút cay cay của tiêu và ớt, độ ngọt và bùi bùi của nước chấm sền sệt, vị tươi mát từ rau xanh... Thật ngọt ngào biết bao món nem lụi xứ Huế.
Nem lụi xứ Huế
Full View
Nhãn:
Nem xứ Huế
Nếu bạn từng một lần đến Huế, từng say mê với các món dân dã như bánh bèo, bánh bột lọc thì nhất định bạn không thể bỏ qua món nem lụi – một trong những đặc sản lâu đời của xứ thần kinh.Nếu bạn từng một lần đến Huế, từng say mê với các món dân dã như bánh bèo, bánh bột lọc thì nhất định bạn không thể bỏ qua món nem lụi – một trong những đặc sản lâu đời của xứ thần kinh.
Rất đơn giản trong cách chế biến, thế nhưng nem lụi đã khiến biết bao nhiêu thực khách phải “ngẩn ngơ lòng” khi thưởng thức. Nguyên liệu để làm nên món nem lụi rất đơn giản: thịt heo đã quết nhuyễn trộn với bì, mỡ heo thái hạt lựu ướp cùng muối, tiêu đường, thính. Sau đó người ta lụi hỗn hợp này vào từng chiếc đũa tre nhỏ và nướng trên bếp than. Mùi vị thơm nức của thịt bốc lên trên từng chiếc đũa tre khiến thực khách “không cầm lòng” nổi. Đó là sự hấp dẫn đầu tiên mà món ăn mang tới cho bạn.
Nhưng món nem lụi không chỉ kéo chân thực khách bởi mùi vị tỏa ra từ miếng thịt ngon lành, mà còn bằng chén nước chấm được pha chế rất độc đáo. Đó không phải là chén nước chấm chua ngọt mà chúng ta vẫn thường ăn với bún thịt nướng hay bún chả, mà là chén nước chấm được pha bằng kiểu rất riêng của người Huế. Đầu tiên, để làm nước chấm, người ta xay nhuyễn đậu phộng, cho thêm một chút nước mắm rồi đun trên bếp thành một hỗn hợp sền sệt giống như tương. Người ta còn cho thêm vào đó gan heo, thịt heo băm nhuyễn để món nước chấm được đậm đà và nhiều hương vị hơn.

Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.
Cầm miếng bánh tráng trên tay, lần lượt xếp rau thơm, khế chua, chuối xanh rồi tới nem lụi, cuốn vào và bắt đầu thưởng thức. Món ăn là sự kết hợp hài hòa của các hương vị: mùi thơm của miếng thịt đã nướng vàng, chút cay cay của tiêu và ớt, độ ngọt và bùi bùi của nước chấm sền sệt, vị tươi mát từ rau xanh... Thật ngọt ngào biết bao món nem lụi xứ Huế.
Rất đơn giản trong cách chế biến, thế nhưng nem lụi đã khiến biết bao nhiêu thực khách phải “ngẩn ngơ lòng” khi thưởng thức. Nguyên liệu để làm nên món nem lụi rất đơn giản: thịt heo đã quết nhuyễn trộn với bì, mỡ heo thái hạt lựu ướp cùng muối, tiêu đường, thính. Sau đó người ta lụi hỗn hợp này vào từng chiếc đũa tre nhỏ và nướng trên bếp than. Mùi vị thơm nức của thịt bốc lên trên từng chiếc đũa tre khiến thực khách “không cầm lòng” nổi. Đó là sự hấp dẫn đầu tiên mà món ăn mang tới cho bạn.
Nhưng món nem lụi không chỉ kéo chân thực khách bởi mùi vị tỏa ra từ miếng thịt ngon lành, mà còn bằng chén nước chấm được pha chế rất độc đáo. Đó không phải là chén nước chấm chua ngọt mà chúng ta vẫn thường ăn với bún thịt nướng hay bún chả, mà là chén nước chấm được pha bằng kiểu rất riêng của người Huế. Đầu tiên, để làm nước chấm, người ta xay nhuyễn đậu phộng, cho thêm một chút nước mắm rồi đun trên bếp thành một hỗn hợp sền sệt giống như tương. Người ta còn cho thêm vào đó gan heo, thịt heo băm nhuyễn để món nước chấm được đậm đà và nhiều hương vị hơn.
Thông thường, người ta ăn kèm nem lụi với bánh tráng, rau thơm, khế chua, chuối xanh, sung… tùy theo khẩu vị mỗi người. Bày nem lụi ra đĩa, bạn sẽ thấy một món ăn đủ màu sắc: màu vàng ươm của miếng thịt đã được nướng, màu xanh của rau, màu nâu của nước chấm, và thêm chút đỏ tươi của vài miếng ớt thái nhuyễn.
Cầm miếng bánh tráng trên tay, lần lượt xếp rau thơm, khế chua, chuối xanh rồi tới nem lụi, cuốn vào và bắt đầu thưởng thức. Món ăn là sự kết hợp hài hòa của các hương vị: mùi thơm của miếng thịt đã nướng vàng, chút cay cay của tiêu và ớt, độ ngọt và bùi bùi của nước chấm sền sệt, vị tươi mát từ rau xanh... Thật ngọt ngào biết bao món nem lụi xứ Huế.









